Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 3 tháng 10, 2019

LÃ NGUYÊN VÀ NIỀM VUI ĐƯỢC NÓI

LÃ NGUYÊN VÀ NIỀM VUI ĐƯỢC NÓI

Thứ hai ngày 10 tháng 2 năm 2014 12:00 AM

Đỗ Ngọc Thống

 

Lã Nguyên tên thật là La Khắc Hòa. Vợ anh tên Vân, họ Nguyễn. “Nguyễn ghép với La thành Nguyễn La, nói lái thành Lã Nguyên. Thế thôi”. Ðó là lời giải thích của anh gần 20 năm trước, khi tôi hỏi về bút danh anh dùng trong các bài viết. Nhà nước chỉ mới phong cho anh Phó giáo sư. Nhưng với tôi, anh đã là giáo sư lâu rồi.

Ở xứ ta việc phong học hàm, học hiệu, chức danh… nhiều khi lạ lắm. Có người chẳng dạy dỗ gì hoặc dạy rất ít, nhưng chức to và ít nhiều liên quan đến ngành giáo dục thế là phong nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân…Không đi dạy sao gọi là nhà giáo? Thiết nghĩ, nếu có công lớn với ngành giáo dục thì nên trao cho họ huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; huy chương chưa xứng thì tặng huân chương, anh hùng lao động...hay là danh hiệu gì đó chứ nhất quyết không phải là nhà giáo. Về chức danh khoa học (học hàm, học vị) cũng thế; có người chẳng được phong gì như Hoàng Ngọc Hiến, nhưng ai cũng gọi thầygiáo sư một cách kính cẩn, trân trọng. Trong khi không ít người được nhà nước phong giáo sư hẳn hoi nhưng gọi lên nghe cứ ngượng miệng, buồn cười thế nào ấy. Mà số này lại ngày càng nhiều. Ối người “y phục không xứng kỳ đức”, chẳng thế mà có câu “Ông này giáo sư nhưng mà giỏi”. Ban đầu, tôi nghĩ chẳng qua là họ nhại theo câu “Tay này đảng viên nhưng mà tốt” cho vui, hóa ra về sau thấy cũng có phần đúng thật. Nói đến chuyện này, La Khắc Hòa có cách nhìn riêng. Còn nhớ lần tôi hỏi: “Sao anh không làm giáo sư? Anh cười và hỏi lại: “Này nhé có 2 câu, một là: Thằng ấy mà cũng giáo sư à? Và câu thứ 2: Thằng này mà chưa được giáo sư à? thì ông chọn câu nào?”.

Về La Khắc Hòa, khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội từ lâu ai mà chẳng quen; dân lý luận phê bình văn học cả nước ai mà không biết; các sinh viên sư phạm ngữ văn, thạc sĩ, nghiên cứu sinh chuyên ngành này không ai lạ cả… Nhắc đến anh, người ta nghĩ ngay đến một tư duy sắc sảo; luôn tiếp cận, nhìn nhận vấn đề một cách mới lạ và diễn đạt chúng đầy ấn tượng, độc đáo. Anh am hiểu sâu sắc những vấn đề thuộc chuyên ngành của mình, biết và hiểu đến nơi đến chốn những đề tài mà anh say mê, tâm đắc…La Khắc Hòa là người chịu khó nghĩ và có cái để mà nghĩ. Dường như lúc nào trong đầu anh cũng nung nấu một cái gì đó về học thuật, về những gì anh đang đọc, đang nghĩ. Điều này rất giống giáo sư Trần Ðình Sử. Chẳng thế mà hầu như lần nào gọi điện hay gặp mặt, câu cửa miệng của anh bao giờ cũng là “Này, tđang nghĩ về vấn đề này….”, hoặc “Mình vừa nghĩ ra tứ cho một bài viết về Nguyễn Duy, đại để thế này, ông xem có được không?”… Rồi anh say sưa nói, nói không biết mệt về những gì anh nghĩ được, chẳng cần chú ý xem người nghe có hiểu hay không nữa. Trong những điều anh nghĩ, có vấn đề rất chuyên sâu, người nghe muốn hiểu cũng phải có ít nhiều tri thức về vấn đề ấy. Mà có phải ai cũng có điều kiện nghiên cứu những gì anh quan tâm đâu. Tôi chẳng hạn, nhiều hôm nghe anh, không hiểu gì. Nhưng nhìn chung là tiếp thu được, vì anh trình bày rất rõ và gọn. Tôi mải mê với công việc tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa trong nhà trường phổ thông, ít có điều kiện theo dõi, cập nhật các vấn đề mới về lý luận văn học, nên thỉnh thoảng gặp anh là một dịp đi học lại, bổ túc thêm những gì mới, những gì cần biết về lĩnh vực này. Thường tôi chỉ chăm chú nghe, không rõ thì hỏi lại; còn anh thì mải mê nói, từ đầu chí cuối. Lâu rồi thành quen, hình như không chỉ với tôi mà với nhiều người khác cũng vậy, anh lấy đó làm cách thức để luyện tập tư duy thì phải; luyện bằng cách nêu vấn đđể người khác phản biện và anh tìm cách lý giải… Chính vì thế anh rất thích nêu những gì đang nghĩ cho những người hay cãi, hay phản bác, tranh luận với mình, góp ý cho mình…

Thế nhưng điều cốt yếu, tôi nghĩ, được nói chính là niềm vui của La Khắc Hòa. Cứ nghĩ mà xem, một đầu óc tỉnh táo, một tư duy sắc sảo, một bản tính hướng ngoại, một đam mê truyền bá… lại ham đọc, ham tìm hiểu, biết được bao điều mới lạ mà người khác chưa biết như là những “bí mật”… thử hỏi sao mà giữ yên được? Vợ có cấm thì dứt khoát cũng phải đào một cái hố hoặc tìm cái chum, cái vại trong nhà để mà xả, mà hét cho bõ. Huống chi vợ anh lại là người chủ trương “tự do ngôn luận”. Thế là La Khắc Hòa tha hồ nói, thoải mái trao đổi với bạn bè. Không ít lần tôi nghe anh khoan khoái thổ lộ: “Hôm qua tao vừa trao đổi với ông Sử (T.Ð.S) cả tiếng qua điện thoại” hoặc “Mình vừa nói chuyện rất lâu với Đỗ Lai Thúy”… 


Cách
đây vài chục năm, tôi đã thấy anh rất hay đưa ra nhiều vấn đề theo kiểu ấy. Gặp ở đâu, bất cứ lúc nào cũng thấy La Khắc Hoà có ý kiến riêng, nói to, rõ ràng và lập luận rất sắc sảo. Những lúc đó tôi nghĩ, ông này mà viết ra tất cả thì thành mấy tập sách ấy chứ. Mà sẽ toàn sách hay, kém gì Trần Ðình Sử. Lâu lâu, sốt ruột, tôi giục: “anh viết thành bài, thành sách đi”; anh cười “chú cứ yên chí…”. Thế rồi, lại một thôi: tao định thế này, tao định thế kia…Rốt cuộc đợi mãi chẳng thấy sách đâu c. Có lần tôi mang chuyện này nói với giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh. Thầy Mạnh cười và buông một câu nhận xét: “La Khắc Hoà thuộc loại tư duy loe lóe” và ông giải thích: “nó là thằng chịu nghĩ chịu khó phát hiện; nhưng cứ lóe lên một ý rất hay, sau đó lại tắt ngấm, chẳng thấy triển khai thành bài vở gì cả”. Không biết có ai nói với anh nhận xét ấy của thầy Mạnh hay không, nhưng sau đó tôi thấy tình hình… vẫn không có gì thay đổi. Anh vẫn say sưa nói và nói rất hay, rất cuốn hút; còn chúng tôi thì vẫn cứ dài cổ đợi sách của anh ra lò. Cũng những năm tháng ấy, một lần cố giáo sư Đỗ Hữu Châu hỏi tôi về một việc gì đó, thay vì nói ý kiến của mình, tôi viện dẫn anh Hòa nói thế này, anh Hòa nói thế kia… Nghe chưa hết câu, giáo sư Châu đã lẩm bẩm: “Ôi giời, mày nghe cái thằng rồng cuốn, rồng leo ấy làm gì”. Nói thế, nhưng tôi biết thầy Châu quý anh Hòa lắm. Ðó là những năm chín mươi của thế kỷ trước…

* Cuộc sống thật khắc nghiệt. Sau một thời gian vất vả, La Khắc Hòa mua
được đất, dựng được nhà, có của ăn của để, con cái vừa trưởng thành thì bỗng một hôm anh bị quật ngã… tưởng đã về với tổ tiên vì bệnh tim mạch. Tôi vào thăm anh trong bệnh viện quân đội 108, sau gần 10 ngày hôn mê rồi mà vẫn không hay biết gì. Trên người chỉ đắp một mảnh vải trắng. Hỏi mới biết động mạch chính trong ngực anh đã thành con “sông lấp”, chẳng còn tác dụng gì, chuyển máu về tim chỉ là một nhánh phụ rất nhỏ và có thể tắc bất cứ lúc nào. May mắn thay, nhờ sự nỗ lực can thiệp kịp thời của bệnh viện và cũng nhờ tiên tổ phù hộ, anh đã trụ lại được...

Như
ng cũng thật lạ, chính sau lần bị đốn ngã này, dù vẫn phải cảnh giác, đề phòng với bệnh tình, nhưng anh đã trở lại với lĩnh vực chuyên môn của mình một cách đĩnh đạc, sung sức và dường như mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Bút danh Lã Nguyên xuất hiện nhiều hơn, nhất là với những bản dịch về các vấn đề lý luận văn học hiện đại. Anh say sưa đắm mình vào các trang mạng nổi tiếng, cập nhật, thu thập thông tin về các trào lưu, xu hướng đổi mới lý luận văn học…Anh làm việc còn nhiều hơn cả giai đoạn trước khi bị đốn ngã. Kết quả là chỉ vài ba năm sau khi tạm bình phục, thành quả lao động của Lã Nguyên lại nhiều hơn những gì làm được trong khoảng thời gian trước. Năm 2010 anh tham gia dịch và cho ra cuốn Đường sống, tuyển tập văn thư nghị luận chọn lọc của L.Tolstoi. Cuốn sách gần 1200 trang do Phạm Vĩnh Cư chủ biên. Năm 2012 nhà xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội in cuốn Lý luận văn học - những vấn đề hiện đại do Lã Nguyên chọn dịch. Ðúng hơn là một số vấn đề lý luận văn học hiện đại dưới con mắt Lã Nguyên. Hơn 300 trang, sách giới thiệu với bạn đọc hàng chục bài viết của những tên tuổi lớn về những vấn đề lý luận hiện đại: từ M Bakhtin với vấn đề thể loại lời nói và các tiểu luận của Tz. Todorov; J. Kristeva; M.L. Gasparov bàn về di sản của Bakhtin đến các công trình nghiên cứu của Iu.M. Lotman với hàng loạt các khái niệm then chốt như: “ký hiệu quyển”, “văn bản”, “ngôn ngữ nghệ thuật”, “kết cấu tác phẩm nghệ thuật ngôn từ”, “ngun gốc truyện kể”; từ các tiểu luận bàn về “phê bình”, “nhà văn”, “người viết”, “tiến trình văn học”, “chủ nghĩa cấu trúc” của R.Barthes; Tz.Todorov; Al.V. Mikhailov đến hai công trình thực hành phân tích cấu trúc và giải cấu trúc của M.I.GasparovIu.V.Satin

Phó Giáo sư La Khắc Hòa và Giáo sư Trần Đình Sử

Cuốn sách ra đời đúng lúc và rất cần thiết cho giới lý luận phê bình Việt Nam. Trong bối cảnh thế giới thay đổi như vũ bão, tràn ngập thông tin thật giả, hay dở lẫn lộn; nhiều người biết ngoại ngữ nhưng cũng rất nhiều người mù tịt; ngoài ra phần lớn là biết không đến nơi đến chốn…thì nội dung cuốn sách trên là thật sự cần thiết; nó “không chỉ cung cấp nhiều khái niệm công cụ quan trọng mà còn giải quyết hàng loạt vấn đề lí thuyết, đặt nền tảng cho khoa nghiên cứu văn học hiện đại” như Nguyên đã dẫn dụ ngắn gọn trong mấy lời mở đầu cuốn sách.

Có người nói, La Khắc Hòa chủ yếu dịch cái của người khác. Ðúng thế. Như
ng họ quên mất một điu: vấn đề là dịch cái gì và dịch như thế nào? Đọc tập sách Lã Nguyên dịch, ngẫm kỹ sẽ thấy, riêng đxác định dịch cái gì, bài nào, của aicả một tầm nhìn, một trình độ hơn người. Ðây không phải là một tập sách dịch nguyên văn của một ai đó ở nước ngoài đã tuyển hộ, mà là thông qua sự đọc, thông qua nghiên cứu, tìm tòi, có thể nói “trên đường học tập và nghiên cứu” anh đã thu thập, tổng kết, chọn lựa và sau đó mới là chuyện dịch. Và ngay cả chuyện dịch cũng không phải đơn giản, đánh đồng tất cả. Để dịch được các vấn đề của các tác giả nêu trên, trước hết người dịch phải có một trình độ lý luận văn học uyên bác, không hiểu hoặc hiểu lõm bõm thì làm sao dịch nổi. Ngay cả với bản tiếng Việt, dịch ra rồi, nhiều người đọc vẫn không hiểu, chứ nói gì đến đọc từ nguyên bản. Giỏi chuyên môn chưa đủ, để dịch hay phải có một trình độ ngoại ngữ tương ứng, cộng với một vốn liếng tiếng Việt phong phú, đa dạng và một năng lực diễn đạt, chuyển ngữ hết sức linh hoạt nữaLã Nguyên là một dịch giả như thế. Anh chuyển dịch chủ yếu từ nguyên bản tiếng Nga, thứ tiếng gắn bó với anh từ ngày làm luận án bên đất bạn, cho tới giờ anh vẫn chung thủy, sắt son với nó. Lã Nguyên là một trong số ít dịch giả Nga ngữ có uy tín, nhất là về các vấn đề lý luận văn học. Trong lúc nhiều người cũng đi học ở Nga, làm luận án bên Nga…nhưng từ khi về nước, chẳng mấy nỗi, đã quên luôn cả tiếng Nga; có cán bộ giảng dạy, mang danh nhà nghiên cứu, thậm chí được phong giáo sư, cũng ở Nga về… thế mà cả năm chưa chắc đã đọc nổi vài chục trang sách bằng tiếng nước ngoài, kể cả tiếng Nga…Vâng, trong bối cảnh ấy, những người như Nguyên không nhiều và các bản dịch của anh thật có ý nghĩa.

Bây giờ thì anh
đã về hưu, mỗi ngày vợ chỉ định phải uống mấy loại thuốc; phải ăn theo thực đơn vợ chuẩn bị; phải làm một số việc “động chân động tay” do vợ đề ra; vì “chỉ có thế mới nhấc ông ấy ra khỏi chiếc máy vi tính” như lời vợ anh giải thích. Nghĩa là bị kiểm soát khá chặt chẽ. Chế độ mẫu hệ vốn được thiết lập từ lâu trong nhà anh, nay được dịp củng cố và phát huy mạnh mẽ. “Kính vợ đặc yên thân” là tư tưởng chiến lược được anh quán triệt thông suốt từ lời nói đến việc làm... Duy chỉ có những suy nghĩ miên man là vợ anh không kiểm soát được và thật may, chủ trương “tự do ngôn luận” vẫn được duy trì. Nghĩa là anh vẫn còn niềm vui được nói; vẫn say sưa, bất tận với những ý tưởng mới mẻ, những dự định mà anh đang “ âm mưu” biến thành hiện thực. Điều anh ấp ủ và chủ trương hướng tới vẫn là vận dụng khung lý thuyết hiện đại vào nghiên cứu văn học dân tộc. Từ những nghiên cứu về Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng trước đây đến Nguyễn Xuân Khánh, Đặng Thân gần đây. Tác giả anh mê hơn cả vẫn là Nguyễn Huy Thiệp; gần đây hơn anh đang ấp ủ bài viết về Nguyễn Duy và nhận thấy rất cần nghiên cứu về thơ Nguyễn Quang Thiều…

Nhắm mắt lại, bên tai tôi vẫn v
ăng vẳng những diễn ngôn sôi nổi, say sưa, bất tận của La Khắc Hòa về những ý tứ thâm trầm, về các tác giả, tác phẩm văn học mà anh định viết. Vẫn là những tia chớp loé sáng rất lạ, nhưng hy vọng chúng không chỉ “loe lóe” rồi tắt mà sẽ được thổi bùng lên thành những bó đuốc rực sáng. Chỉ cần trời cho anh sức khỏe. Thế thôi.

Đ.N.T - Hà Nội mồng 5 tết con Ngựa

Theo trang thông tin: http://nico-paris.com/tin-tuc-560/la-nguyen-va-niem-vui-duoc-noi.vhtm

 

Thầy tôi

Thầy tôi


Ngọc Minh
Bởi mọi người có vẻ rất ủng hộ việc tôi cứ là một giáo viên quèn, nên có lẽ từ hôm nay tôi sẽ bắt đầu kể lể những câu chuyện vụn vặt, nhàm chán, bi ai, nực cười, cao cả… xoay quanh chủ đề giáo viên quèn. Hi vọng một ngày nào đó sẽ giật được một hàng tít rất kêu trên báo lá cải: Giáo viên quèn tuyên chiến với giới truyền thông, bởi những câu chuyện mà tôi kể chắc chắn sẽ đi ngược lại với những gì đang rất hot, đang làm dư luận xụt xùi than khóc hay đập bàn phẫn nộ ngày nay. Nó có thể là những truyện cổ tích lạc hẳn ra khỏi thế giới cằn cỗi này và hi vọng nếu nó không lay chuyển được truyền thông lá cải, thì vẫn có thể “mua vui cũng được một vài trống canh”.
Câu chuyện đầu tiên sẽ là truyền thuyết về sức mạnh thần kì của một giáo viên “không hề quèn”
Nếu như có một người mà lại khiến tôi không bao giờ hết ngạc nhiên về cái gọi là năng lượng tinh thần thì đó chính là thầy tôi, PGS.TS La Khắc Hòa, thường được biết đến với bút danh nhà phê bình, lí luận văn học, dịch giả, đầu bếp, đánh giày và ủi quần áo chuyên nghiệp Lã Nguyên (trong những danh vị này, tôi thích nhất là khi thầy làm đầu bếp). Tôi biết là thầy sẽ không thích cái việc tôi cứ lảm nhảm nói về thầy, nhưng tôi cần phải kể câu chuyện cổ tích này, không phải để cho thầy, mà để cho các sinh viên của tôi, những giáo viên quèn tương lai và cho các phụ huynh học sinh của tôi, người muốn biết cái gì đã khiến tôi cam phận làm một giáo viên quèn.
Hơn mười năm làm học trò của thầy, tôi chưa bao giờ hiểu nổi con người ấy lấy đâu ra nhiều năng lượng thế (trộm vía). Tôi cũng thường được cho là dư thừa năng lượng, nhất là cho những việc vô bổ, nhưng so với thầy, lúc nào tôi cũng thấy mình thiếu sinh khí. Con người ấy lúc nào cũng tươi vui, nói không ngớt, bước đi phăm phăm, thích ăn ngon và mặc đẹp, tò mò như một đứa trẻ con trước những tri thức mới, say mê những cái phù phiếm, không biết sợ là gì, không thèm chấp những thứ vặt vãnh, thạo công nghệ, hiểu về thời trang, cực kì thông minh (ai lại đi khen giáo sư thông minh bao giờ nhưng đúng thực là như vậy)… Chẳng bao giờ tôi cảm thấy sức sống ấy vơi cạn, ngay cả trong những tình huống thập tử nhất sinh, ngay cả khi thầy đã gần bảy mươi tuổi và chỉ sống bằng nửa trái tim, ăn toàn muối vừng và khoai luộc mỗi ngày.
PGS La Khac Hoa
Cách thầy bước đến và thách thức tử thần cũng như cách thầy bước ra từ cõi chết cũng anh dũng phi thường. Nhồi máu cơ tim suýt chết sau một cua dạy cao học thông một mạch gần bốn tiếng đồng hồ giữa trưa hè ngột ngạt, sau hơn chục ngày cấp cứu, đúng trong cái lúc mà cả bác sĩ lẫn người nhà đều suýt tuyệt vọng, thì bỗng nhiên người ta phát hiện có một động mạch phụ đã phình ra từ thuở nảo thuở nào để nuôi dưỡng cho quả tim tràn đầy nhiệt huyết. Vừa sống lại thần kì từ cõi chết, khi tôi vào thăm, thầy đã hào hứng như một đứa trẻ: Sống rồi! Sống rồi! Và trong câu chuyện của một con người vừa trở về từ cõi chết, thầy vẫn không quên: Thầy nghĩ cái luận án của con phải làm thế này thế này. Tôi cảm động phát khóc vì chắc là cái nghiệp chướng luận án của tôi nó ám ảnh thầy ngay cả trong những lúc thập tử nhất sinh.
Ngày tôi là sinh viên năm thứ tư, ngập ngừng đến nhà thầy xin hướng dẫn, câu đầu tiên thầy nói: con là con gái, làm gì cũng phải tính toán cân nhắc, thời gian của con không có nhiều, không có cơ hội làm lại như bọn con trai. Khoa học gì thì khoa học, học hành gì thì học hành, cũng phải lấy chồng sinh con. Năm nào tôi cũng ra rả nhắc lại câu này cho các lứa sinh viên học sinh của mình, đến nỗi nó đã thấm vào thành một nguyên tắc sống của tôi.
Thầy hướng dẫn tôi bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào: khi đang đứng trong nhà xe nóng như thiêu, hay giữa căn bếp thơm phức mùi xào nấu nhà thầy, dưới gầm cầu thang, khi đi đám ma, lúc thăm người ốm ở bệnh viện, trên đường du lịch, trong cuộc họp… Tôi không có cách nào trốn chạy khỏi những Saussure, Heghen, Bakhtin, Todorov rồi thì là Foucault, Roland Barthes, cũng không có cách nào từ chối hàng loạt những cái lủng củng liểng xiểng Chủ nghĩa cấu trúc, Chủ nghĩa hình thức, Kí hiệu học…, rồi một loạt những trời ơi là mã, diễn ngôn, kí hiệu quyển, huyền thoại… Đúng là thập diện mai phục, có muốn ngu dốt cũng khó. Luận án của tôi thành hình không phải theo cái mẫu rất chuẩn mực thông thường: một ông thầy đạo mạo đứng trên bục cao và nói những lời như thánh phán, mà từ những tình huống đời thường buồn cười như thế.
Ngày tôi đưa đề tài ra xemina trước tổ bộ môn, tôi hoang mang tuyệt vọng tưởng chừng mình sẽ không vượt qua được cái chặng khổ ải này, buổi chiều bất chợt nhận được điện thoại của thầy: đến nhà thầy ngay để bàn cách chữa, suốt trưa tao không ngủ được vì cái mặt đần thối của mày. Sáng hôm sau tôi đến nhà, thầy nói một mạch gần 4 tiếng đồng hồ, để sau đó tôi viết một mạch 1 tuần thành 1 cái luận án hoàn toàn khác. Trên đường trở về nhà, tôi đã phát khóc bởi một cảm xúc chưa bao giờ từng trải qua trước đó: vừa nhẹ nhõm như mới được cứu sống và tiếp thêm năng lượng, vừa cảm động vô cùng vì tấm lòng của một người thầy, vừa xấu hổ vì sự nông cạn của bản thân, vừa hoang mang lo sợ không biết mình có được như thầy kì vọng. Nhưng có lẽ chính từ những xáo trộn ấy, từ chỗ tuyệt vọng ấy, từ nguồn năng lượng tinh thần không ai có thể hiểu nổi đã chạy từ thầy sang tôi ấy, mà tôi đã vượt qua.
Nếu một ngày phải cãi nhau với giới truyền thông và đưa ra một minh chứng đi ngược lại với những gì truyền thông tô vẽ về giáo viên quèn, thì dẫn chứng sống động nhất chắc chắn là thầy tôi, con người chẳng tuân theo khuôn phép truyền thống, cũng chả chịu là nạn nhân của bất cứ cái gì. Ngày tôi chân ướt chân ráo được nhận về tổ bộ môn, trong lúc loay hoay vụng về tìm một cái ghế thấp để ngồi trong buổi họp tổ đầu tiên, thì nhận ngay được một câu gây sốc: con cứ chọn cái ghế cao nhất mà ngồi, thầy bảo thật, học trò là phải ngồi cao hơn thầy. Nếu chúng tôi có đến nhà thầy liên hoan, thì người dắt xe cũng là thầy, đi chợ cũng là thầy, rửa rau cũng là thầy, xào nấu cũng là thầy, thậm chí bê thức ăn ra cũng là thầy, rửa bát sẽ là vợ thầy, không phải vì chúng tôi lười, mà thầy nhất định không để chúng tôi đụng vào việc gì.
Kết quả hình ảnh cho Phó giáo sư Tiến sĩ "La Khắc Hòa"
Phó giáo sư, tiến sỹ La Khắc Hòa
Tôi chẳng bao giờ biếu thầy được cái gì đáng giá, ngược lại tha từ nhà thầy về đủ thứ, từ bát canh măng đến nải chuối xanh, quả dứa ngọt, túi bánh đa thầy xách ở quê ra, cái bánh mì kẹp pate thầy vừa mới tự làm. Khi xe của tôi bị hỏng đúng lúc đến nhà thầy, tôi lấy xe của thầy để đến trường và rất yên tâm vì biết chắc là khi trả xe cho thầy, xe tôi đã được sửa sang cẩn thận, rửa ráy sạch sẽ. Nếu lúc tôi rời nhà thầy mà trời mưa, tôi sẽ trộm ngay cái áo mưa nhà thầy mà biết rằng mình cũng không nhất thiết phải đem trả. Sau khi cả tổ đã đi chơi loăng quăng mọi nơi, đói bụng, chúng tôi thể nào cũng phải hạ cánh ở nhà thầy để nạp lại năng lượng. Ngày mùng một tháng 6, thầy lên tận Hàng Mã mua quà cho con tôi rồi hai ông bà già cặm cụi mang đến tận nhà. Hễ có ai định chê bai học trò thầy điều gì, là thầy gạt phắt bằng một khẩu khí đố ai mà cãi được: học trò của tôi nó là hoa lan hoa mộc. Ngày cưới tôi, bố mẹ tôi ngồi tiếp chuyện thầy, thầy bảo: Ông bà ra tiếp người khác đi, chúng tôi không quan trọng. Thầy lo học trò bị bắt nạt, luôn mồm nịnh bợ chồng tôi nào thì là giỏi làm ăn, hiền lành, tháo vát, bao dung… Tôi chẳng bao giờ khen thầy hay nói với thầy một lời cảm ơn cho tử tế vì tôi biết thầy chẳng bao giờ cần những cái đó, hoặc giả trước một hình mẫu giáo viên quèn khác thường như thế, mọi lời nói đều trở nên sáo rỗng và vô nghĩa.

Những lúc tôi cảm thấy hoang mang trong cuộc sống hay lúng túng khi xử lí một mối quan hệ nào đó, hoặc mất niềm tin vào con đường của mình, hoặc đơn giản là thấy bụng mình đói, hay thèm một món ăn nào đó, hoặc thấy trời hôm nay thật đẹp, hoặc là vừa đọc được một cái gì đó hay hay…, tôi thường đến nhà thầy, như một thói quen vì tôi biết là tôi sẽ trở ra với cái bụng no, tâm trạng phấn khởi, đầu đầy những chữ, nhuệ khí tràn trề như vừa được sạc pin.

Nhiều phụ huynh và bạn bè, có lẽ có cả rất nhiều sinh viên của tôi thắc mắc: làm thế nào mà tôi lại có thể vui vẻ làm một giáo viên quèn như thế? Câu trả lời của tôi là: tôi không phải làm thế nào cả, tôi không cần phải nhọc công, tôi chỉ cần bắt chước và học mót được tí nào hay tí ấy từ những người thầy quèn của tôi. Hoặc đơn giản hơn, tôi chỉ cần thỉnh thoảng chạy đến nhà thầy, ăn cho no, tán chuyện thoải mái không cần giữ kẽ, xin xỏ bất cứ cái gì có thể xin xỏ được, rồi thì trở về nhà, đầu tôi lại đầy chữ, người tôi lại ngập tràn năng lượng.
22/6/2014
Theo trang tin tức phê bình văn học việt nam

Đưa phê bình kí hiệu học đến gần với độc giả

Đưa phê bình kí hiệu học đến gần với độc giả

Thứ Sáu, 21/9/2018 09:24

Đưa phê bình kí hiệu học đến gần với độc giả
Sách phê bình ký hiệu học của tác giả Lã Nguyên

GD&TĐ - Ngày 24/9, tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội, Nhà xuất bản Phụ nữ và Khoa Viết văn – Báo chí – Đại học Văn hóa Hà Nội, NXB Phụ nữ phối hợp với Khoa Viết văn - Báo chí - Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức buổi tọa đàm giới thiệu sách “Phê bình kí hiệu học - Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ” của Phó Giáo sư - Tiến sĩ La Khắc Hòa (bút danh Lã Nguyên).

Với mục đích đưa phê bình kí hiệu học đến gần và "dễ hiểu" hơn với độc giả, như một cách tiếp cận mới để tìm ra cái hay, cái đẹp của văn học nghệ thuật, đem đến đời sống tinh thần phong phú cho độc giả, tại buổi tọa đàm, khán giả sẽ được trò chuyện cùng GS.TS Trần Đình Sử, PGS.TS La Khắc Hòa, TS Trần Ngọc Hiếu.

“Phê bình kí hiệu học”của Lã Nguyên là cuốn sách phát hiện lại lí thuyết trên một chất liệu mới là các tác phẩm văn học Việt Nam, tác giả hướng đến việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn ngữ đặc thù làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử và trong sáng tác của một số nhà văn, nghệ sĩ.

“Phê bình kí hiệu học”, với Lã Nguyên, chính là sự phát hiện, kiến tạo kí hiệu, giải mã kí hiệu, phiên dịch kí hiệu, là giải thích ý nghĩa của các kí hiệu. Chẳng hạn, với Tố Hữu, Lã Nguyên chỉ ra bốn nhân vật - kí hiệu xuyên suốt các tác phẩm của ông là: lãnh tụ anh minh, mẹ vĩ đại, chúng con anh hùng và kẻ thù bầy thú man rợ.

Còn với Nguyễn Tuân, Lã Nguyên gọi ông là nhà văn của hình dung từ. Tác giả chỉ ra nội hàm của hình dung từ ấy trong suốt tiến trình viết của Nguyễn Tuân qua các giai đoạn: hình dung từ về kì nhân, kì sự, kì thú, khi chuyển sang giai đoạn mới, Nguyễn Tuân chuyển sang hình dung từ về kì quan và quái nhân. Lã Nguyên đã làm cho các mã kí hiệu được gọi tên cụ thể, trở thành đặc trưng của từng nhà văn.
Với lối viết mạch lạc, rõ ràng, cùng những phân tích sắc sảo và thú vị, cuốn sách là tài liệu hữu ích cho những nhà nghiên cứu và bạn đọc yêu văn chương.


Lê Đăng

Mỗi ngày một cuốn sách: "Phê bình kí hiệu học" của tác giả Lã Nguyên

Mỗi ngày một cuốn sách: "Phê bình kí hiệu học" của tác giả Lã Nguyên

Home / 2018 / Tháng Tám / ngày 19 / Phê bình kí hiệu học
Điểm sách

Phê bình kí hiệu học

Phe binh ki hieu hoc
Sách phê bình ký hiệu học của tác giả Lã Nguyên

Trên thế giới, kí hiệu học đã được nghiên cứu như là khoa học về kí hiệu từ đầu thế kỷ XX, và sau đó nó phát triển rầm rộ, lan rộng và được vận dụng ở khắp các nước từ Nga qua Mĩ, từ Tây Âu đến Đông Âu. Ở Việt Nam, kí hiệu học được khởi xướng bởi nhà nghiên cứu Phan Ngọc, Hoàng Trinh, tuy nhiên, mãi những năm gần đây, kí hiệu học mới được dịch và ứng dụng như một lí thuyết bởi các nhà nghiên cứu Trần Đình Sử, Lã Nguyên… Với mục đích đưa “phê bình kí hiệu học” đến gần và “dễ hiểu” hơn với độc giả, như một cách tiếp cận mới để tìm ra cái hay, cái đẹp của văn học nghệ thuật, đem đến đời sống tinh thần phong phú cho độc giả, NXB Phụ nữ xin giới thiệu với bạn đọc cuốn Phê bình kí hiệu học – Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ của nhà phê bình Lã Nguyên.

“Phê bình kí hiệu học” của Lã Nguyên là cuốn sách phát hiện lại lí thuyết trên một chất liệu mới là các tác phẩm văn học Việt Nam, tác giả hướng đến việc tái cấu trúc các hệ thống ngôn ngữ đặc thù làm nên các loại hình diễn ngôn trong văn học nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử và trong sáng tác của một số nhà văn, nghệ sĩ.

Cuốn sách gồm hai phần: Tiếng nói thời đại và Ngôn ngữ tác giả. Ở đây ngôn ngữ nghệ thuật của thời đại văn học (Nguyên tắc vẽ tranh, tạc tượng đài và chủ nghĩa hiện thực thị giác trong văn học Việt Nam trước 1975, Diện mạo văn học Việt Nam 1945-1975 nhìn từ góc độ thi pháp thể loại, Nhìn lại các bước đi. Lắng nghe những tiếng nói…) và ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác cá nhân (Nguyễn Tuân nhà văn của hình dung từ, Thơ Tố Hữu kho “kí ức thể loại” của văn học từ chương, Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam…) được khảo sát dưới ánh sáng của kí hiệu học diễn ngôn và thi pháp học lịch sử để có thể mô tả chúng trong sự thống nhất với nhau.

“Phê bình kí hiệu học”, với Lã Nguyên, chính là sự phát hiện, kiến tạo kí hiệu, giải mã kí hiệu, phiên dịch kí hiệu, là giải thích ý nghĩa của các kí hiệu. Chẳng hạn, với Tố Hữu, Lã Nguyên chỉ ra bốn nhân vật – kí hiệu xuyên suốt các tác phẩm của ông là: lãnh tụ anh minh, mẹ vĩ đại, chúng con anh hùng và kẻ thù bầy thú man rợ. Còn với Nguyễn Tuân,Lã Nguyêngọi ông là nhà văn của hình dung từ. Tác giả chỉ ra nội hàm của hình dung từ ấy trong suốt tiến trình viết của Nguyễn Tuân qua các giai đoạn: hình dung từ về kì nhân, kì sự, kì thú, khi chuyển sang giai đoạn mới, Nguyễn Tuân chuyển sang hình dung từ về kì quan và quái nhân. Lã Nguyênđã làm cho các mã kí hiệu được gọi tên cụ thể, trở thành đặc trưng của từng nhà văn.

Tác giả: Lã Nguyên
Nhà xuất bản: NXB Phụ Nữ
Công ty phát hành: NXB Phụ Nữ
Theo kênh thông tin mỗi ngày một cuốn sách: 
https://moingay1cuonsach.com.vn/2018/08/19/phe-binh-ki-hieu-hoc/


Phê bình kí hiệu học mở ra hướng nghiên cứu mới

Phê bình kí hiệu học mở ra hướng nghiên cứu mới

Văn hóa | Thứ ba, 25/09/2018 15:24 (GMT+7) 

Phê bình kí hiệu học mở ra hướng nghiên cứu mới
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lã Nguyên phát biểu trong buổi Tọa đàm "Phê bình kí hiệu học - Đọc văn như là hành trình tái thiết ngôn ngữ"

'Phê bình kí hiệu học', một cuốn sách hay của tác giả Lã Nguyên

'Phê bình kí hiệu học', một cuốn sách hay của tác giả Lã Nguyên

10/09/18 12:07 GMT+7

''Phê bình kí hiệu học' là cuốn sách dày dặn (400 trang) với 14 tiểu luận và một phụ lục. Cuối sách có lời bạt của GS.TS Trần Đình Sử được viết rất công phu mà tôi đã đọc trên trang facebook của ông trước khi nhận được sách của Tiến sĩ La Khắc Hòa.


Trưa ngày 6 tháng 9, tôi nhận được cuốn sách PHÊ BÌNH KÝ HIỆU HỌC của nhà nghiên cứu lí luận, phê bình văn học Lã Nguyên gửi tặng theo đường chuyển phát nhanh. Cuốn sách do NXB Phụ nữ ấn hành, khổ 15.5x 23.5 cm, in 1200 bản vừa mới xuất xưởng, còn thơm mùi mực.

Lã Nguyên chỉ là bút danh. Tên thật của ông là La Khắc Hòa, PGS.TS, từng nhiều năm là giảng viên Khoa Văn, Đại học Sư phạm Hà Nội.

"Phê bình kí hiệu học" là cuốn sách dày dặn (400 trang) với 14 tiểu luận và một phụ lục. Cuối sách có lời bạt của GS.TS Trần Đình Sử được viết rất công phu mà tôi đã đọc trên trang facebook của ông trước khi nhận được sách của Tiến sĩ La Khắc Hòa.

Ngoài phụ lục, tác phẩm chia làm hai phần “Tiếng nói thời đại”và “Ngôn ngữ tác giả”. Những bài viết ở phần “Tiếng nói thời đại” có thể xem như những nghiên cứu trên bình diện tổng quát từ lý thuyết, còn phần “Ngôn ngữ tác giả” chính là đem những lý thuyết ấy soi rọi vào từng nhà văn và những sáng tác cụ thể của nền văn học Hiện thực Xã hội chủ nghĩa Việt Nam gần hai phần ba thế kỷ qua với những diện mạo, sắc thái đặc thù của nó.

Về lý thuyết "Phê bình kí hiệu học", ở Việt Nam, Lã Nguyên được coi là người nghiên cứu chuyên sâu. Ông đem đến cho nền phê bình văn học vốn dĩ khá mờ nhạt một không khí mới và phương pháp nghiên cứu mới, khác hẳn lối phê bình xã hội học dung tục luôn có xu hướng bình, tán tùy hứng nặng về màu sắc chính trị.

Ở phần “Ngôn ngữ tác giả” Lã Nguyên đưa ra một số gương mặt văn học tiêu biểu thuộc khuynh hướng sáng tác Hiện thực Xã hội chủ nghĩa trong nền văn học Việt Nam đương đại, trong đó có những nhà văn từng được suy tôn vào hàng "trưởng lão" như Nguyễn Tuân, Nam Cao, Tố Hữu v.v... sau đó, ông sử dụng lý thuyết KÍ HIỆU như một phương pháp luận cơ bản để khảo sát tác phẩm của họ theo trình tự, cuối cùng rút ra kết luận cụ thể của từng trường hợp.

Trong 8 gương mặt văn học được Lã Nguyên nghiên cứu, tôi mới chỉ kịp lướt qua tiểu luận "Thơ Tố Hữu - Kho 'kí ức thể loại' của văn học từ chương...", nhưng sau khi đọc xong, tôi thật sự ngỡ ngàng bởi cách tiếp cận và lý giải thơ Tố Hữu của ông. Theo tác giả, chiến lược diễn ngôn của thơ Tố Hữu lại là TRUYỀN THUYẾT, một thể loại văn học có từ thời trung đại. Từ chiến lược diễn ngôn ấy dẫn đến sự lựa chọn ngôn ngữ thế giới quan và các mô thức tu từ.

Lã nguyên phát hiện ra Tố Hữu đã kiến tạo "ba bức tranh thế giới" bằng ba loại ngôn ngữ thế giới quan. Đó là "ngôn ngữ nhà binh", "ngôn ngữ dòng tộc" và "ngôn ngữ hội hè". Tác giả cũng khẳng định, thơ Tố Hữu là loại thơ tuyên truyền cổ động, nhưng nó réo rắt có sức mạnh lôi kéo công chúng một thời bởi nó được biểu đạt bằng "bốn mô thức tu từ" là "Thệ", "Hịch", "Ca thi" và "Đại cáo".

Qua cách phân tích và dẫn chứng rất thuyết phục của tác giả, người đọc dễ dàng nhận ra ngay bản chất thơ Tố Hữu là gì, nó nằm trong hệ hình thẩm mĩ nào và vì sao nó chỉ là sản phẩm tinh thần của một thời.

Đọc tiểu luận này, tôi càng ngộ ra, muốn nhận xét, bình giá một tác phẩm văn học, trước hết cần phải biết cách đọc. Mà muốn biết cách đọc thì phải được trang bị lý luận cơ bản. Không ai phê phán ta nhận xét, bình giá một cuốn sách bằng cảm tính. Nhưng đấy chỉ là nhất thời. Sau những cảm xúc ban đầu của sự tiếp nhận là cả một đại dương mênh mông về thi pháp...

Đặng Văn Sinh |

Theo báo mới điện tử

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2019

Xuôi dòng Hoạt giang - Thanh Hóa

Xuôi dòng Hoạt giang - Thanh Hóa

(BTH) - Không có được tầm vóc như con sông Mã khi thì dữ dội, kiêu bạc “gầm lên khúc độc hành”, lúc lại sâu lắng, trầm ngâm nép mình trong lòng thành phố; cũng không phải là dòng sông Chu chở nặng phù sa mà bồi đắp nên xóm làng, bờ bãi, con sông Hoạt như một dải lụa mỏng manh, vắt mình qua hai xã Nga Thiện, Nga Điền của huyện Nga Sơn.


Nhắc về những dòng sông đôi khi là để chúng ta nối dài câu chuyện về sự đắp bồi nên nét đẹp văn hóa. Nó đúng như cái cách mà con sông Hoạt đã góp phần kiến tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc của mảnh đất Nga Sơn. Xuôi dòng sông Hoạt, ngao du qua những địa danh lịch sử, danh lam thắng cảnh trên hành trình mà nó đi qua để thấy được chiều sâu văn hóa – lịch sử của mảnh đất được đánh giá là một trong 10 khu vực trọng điểm khai thác du lịch của tỉnh Thanh Hóa.


Xã Nga Thiện, nơi sông Hoạt tự ngàn xưa đã êm đềm con nước và cũng là nơi chứng kiến mối lương duyên, thiên tình sử lãng mạn giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương. Tạo hóa, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu nơi động Từ Thức (hay còn gọi là động Bích Đào). Quả không sai nếu có ai đó liên tưởng vẻ đẹp của động Từ Thức như một cuộc chơi kỳ công mà người chơi không phải ai khác ngoài những khối thạch nhũ, khối đá. Khen tạo hóa khéo tạc nên hình, nên dạng rất thực, rất gần gũi với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc.

Dulichgo

Bước chân vào động, trong không gian tĩnh lặng, du khách như nghe được lời của những khối thạch nhũ, khối đá – thì thầm kể câu chuyện Từ Thức gặp tiên. Câu chuyện chia thành 3 phần trùng khớp với 3 cung có trong lòng động. Cung 1 là cảnh Từ Thức gặp tiên và lấy vợ tiên, trung tâm là cảnh “quần tiên hội ẩm”. Cung 2 là cảnh Từ Thức sống ở cõi tiên và ước mơ về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân gian. Chẳng thế mà ở đây có đủ đầy nào kho thóc, kho vàng, kho bạc, kho muối... Lại có cả hình tượng thiêng liêng “rồng chầu ấp trứng”. Rồi những phiến đá, nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần động xuống.

Với trí tưởng tượng phong phú của mình, dân gian gọi những nhũ đá đó là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Nếu du khách có nhã hứng, chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá ấy sẽ nghe vang lên nhiều cung bậc khác nhau của âm thanh. Có tiếng trầm hùng như từ ngàn xưa vọng lại và có những thanh âm réo rắt như cao vút tận trời xanh.


Càng vào sâu trong động, du khách càng thêm ngỡ ngàng trước sự sắp đặt ngẫu nhiên mà khéo léo, tài tình của tạo hóa. Mỗi một không gian trong động đều tập trung tái hiện lại thiên tình sử xưa kia.

Đó là bàn cờ tiên, thư phòng của Từ Thức, buồng tắm của Giáng Hương, đường lên trời hay lối xuống âm phủ, cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương “cưỡi xe mây” du ngoạn chốn bồng lai hay cùng che “lộng vàng” ngâm thơ, đọc sách. Cung 3 tái hiện cảnh Từ Thức từ biệt Giáng Hương trở về hạ giới với một đôi giầy cũ để lại cõi tiên, những bông hoa mẫu đơn vừa như mở đầu cho mối nhân duyên gặp gỡ và cũng là khép lại câu chuyện từ biệt, chia ly. Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.

Dulichgo

Mang theo câu chuyện tình đẹp giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương và những hình ảnh đẹp của “danh sơn đệ nhất động” của trời Nam – động Từ Thức, sông Hoạt tiếp tục xuôi dòng đưa du khách đến với một di tích, thắng cảnh nổi tiếng khác của xã Nga Thiện. Đó là núi Bia Thần. Trên ngọn núi này có khắc một chữ Thần bằng tiếng Hán rất lớn, chiều ngang khoảng 1m, chiều dọc khoảng 2m. Không ai biết chính xác về sự ra đời của chữ Thần này, sử sách có ghi chép lại nhưng cho đến nay cũng tồn tại rất nhiều dị bản, khó phân định đúng sai. Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép lại: “Chữ Thần khắc trên đá tương truyền là bút tích của Vua Lê Thánh tông”.

Tuy nhiên, theo như nghiên cứu gần đây của các tác giả Hồng Phi, Hương Nao thì chữ Thần được khắc vào tháng hai năm Tân Mão (1771), trong dịp chúa Trịnh Sâm trở về Kinh đô Thăng Long bằng đường thủy, sau hơn nửa năm kinh lý trên xứ Thanh Hoa. Và sáu chữ Hán nhỏ khắc chìm bên cạnh chữ Thần là “Nhật Nam nguyên chủ đặc sai” cho ta biết đây là bút hiệu của chúa Trịnh Sâm, thường đi kèm với các bài thơ khắc đá của ông.


Chính sự không rõ ràng về nguồn gốc này lại càng khiến cho sự có mặt của bia Thần trên hành trình sông Hoạt xuôi dòng thêm phần kỳ bí, nhuốm màu sắc tâm linh. Nhìn nét chữ khỏe khoắn, phóng khoáng được khắc tạc trên đá, ở một vị trí núi non hiểm trở như muốn chứng tỏ rằng nơi đây là vùng đất thiêng, có thần linh che chở, phù hộ.

Dulichgo
Nếu bên này sông, con người khéo tạc nên chữ Thần nơi cửa biển thì chỉ cần một cái ngoái đầu, du khách sẽ cảm thấy vô cùng thú vị khi được ngắm nhìn tượng ông Lã Vọng ngồi buông cần câu cá trên chỏm đá do bàn tay thiên nhiên gọt giũa mà thành. Giữa sóng nước mênh mông, đôi bờ chỉ thấy xanh mướt bờ tre, ruộng cói xen kẽ màu tím ngan ngát của những cánh hoa lục bình lập lờ trôi và những nếp nhà ẩn hiện, tượng ông Lã Vọng trên cao khiến du khách dễ dàng liên tưởng đến câu chuyện Lã Vọng câu cá chờ thời nổi tiếng.


Mê mải theo dòng Hoạt giang, du khách đã thấy mình ở giữa mênh mông non nước Thần Phù. Cửa Thần Phù vốn là một cửa biển hiểm yếu xa xưa nằm trên tuyến đường thủy hành quân Nam tiến của người Việt nên được gắn với nhiều truyền thuyết ly kỳ trong dân gian và sử sách. Theo Nam Ông mộng lục, Vua Lý Thái tông mang quân Nam tiến để đánh dẹp Chiêm Thành, đến cửa biển này gặp gió to sóng dữ, không đi được, may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao minh dẹp yên sóng dữ. Trên đường trở về, đạo sĩ mất. Vua biết tin, cho lập đền thờ ở ngay cửa biển, phong hiệu là “Áp lãng chân nhân” (người dẹp yên được sóng dữ) và gọi tên nơi đây là cửa biển Thần Phù. Sử sách Việt có ghi chép lại nhiều chiến tích chống giặc ngoại xâm qua các thời kỳ của quân và dân ta nơi cửa biển này.


Năm 40 sau Công nguyên, Lê Thị Hoa - nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của Mã Viện. Vào cuối thế kỷ X, khi Vua Đinh Tiên Hoàng vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp vùng cửa biển và ghé thăm chùa Hàn Sơn – một công trình kiến trúc tâm linh có tính nghệ thuật cao.

Dulichgo
Trong lịch sử ngàn năm nước Đại Việt xưa, non nước Thần Phù là danh sơn thắng địa bậc nhất trong 12 cửa biển. Chẳng thế mà Nguyễn Trãi khi qua nơi này đã động lòng mà viết nên thơ: “Núi vút ngàn trùng non dựng đứng/ Rắn bò một dải nước quanh đi”. Qua sự biến thiên của thời gian, một cửa biển sóng to, gió giữ từng là nỗi ám ảnh của thuyền, bè qua lại, đến nay chỉ còn là vùng đất nằm cách bờ biển hơn 10km.


Xuôi dòng Hoạt giang, du khách không chỉ được thả hồn trong cảnh sắc thiên nhiên mà còn được thưởng thức nhiều đặc sản đã làm nên hương vị ẩm thực độc đáo của Nga Sơn: Gỏi cá nhệch; dê ủ trấu...

Tiềm năng, thế mạnh là thế, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, dòng sông Hoạt với những thế mạnh thu hút khách du lịch chưa được khai thác một cách thực sự tương xứng, có hiệu quả. Hy vọng rằng, trong tương lai không xa, bằng những chủ trương đúng đắn và sự quan tâm, đầu tư, khai thác của các cấp, các ngành, du lịch sông Hoạt nói riêng và du lịch Nga Sơn nói chung sẽ phát triển một cách hiệu quả, bền vững, hướng tới trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của địa phương.

Theo Hương Thảo (Báo Thanh Hóa)
Du lịch, GO!

Xuôi dòng Hoạt giang

Xuôi dòng Hoạt giang

Không có được tầm vóc như con sông Mã khi thì dữ dội, kiêu bạc “gầm lên khúc độc hành”, lúc lại sâu lắng, trầm ngâm nép mình trong lòng thành phố; cũng không phải là dòng sông Chu chở nặng phù sa mà bồi đắp nên xóm làng, bờ bãi, con sông Hoạt như một dải lụa mỏng manh, vắt mình qua hai xã Nga Thiện, Nga Điền của huyện Nga Sơn.

Xuôi dòng Hoạt giang
oàn cảnh chùa Hàn Sơn – Cửa Thần Phù (xã Nga Điền, Nga Sơn). Ảnh: Hương Thảo
Nhắc về những dòng sông đôi khi là để chúng ta nối dài câu chuyện về sự đắp bồi nên nét đẹp văn hóa. Nó đúng như cái cách mà con sông Hoạt đã góp phần kiến tạo nên diện mạo văn hóa đặc sắc của mảnh đất Nga Sơn. Xuôi dòng sông Hoạt, ngao du qua những địa danh lịch sử, danh lam thắng cảnh trên hành trình mà nó đi qua để thấy được chiều sâu văn hóa – lịch sử của mảnh đất được đánh giá là một trong 10 khu vực trọng điểm khai thác du lịch của tỉnh Thanh Hóa.
Xã Nga Thiện, nơi sông Hoạt tự ngàn xưa đã êm đềm con nước và cũng là nơi chứng kiến mối lương duyên, thiên tình sử lãng mạn giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương. Tạo hóa, như có một bàn tay siêu thần, có phép màu nhiệm tạo nên bao nhiêu cảnh đẹp như thực, như mơ, lung linh rực rỡ sắc màu nơi động Từ Thức (hay còn gọi là động Bích Đào). Quả không sai nếu có ai đó liên tưởng vẻ đẹp của động Từ Thức như một cuộc chơi kỳ công mà người chơi không phải ai khác ngoài những khối thạch nhũ, khối đá. Khen tạo hóa khéo tạc nên hình, nên dạng rất thực, rất gần gũi với đời sống thường ngày của con người, của hạnh phúc lứa đôi, mà cảnh là một tác phẩm kỳ ảo của thiên nhiên lưu lại những kỷ niệm trùng hợp của đôi trai tài, gái sắc. Bước chân vào động, trong không gian tĩnh lặng, du khách như nghe được lời của những khối thạch nhũ, khối đá – thì thầm kể câu chuyện Từ Thức gặp tiên. Câu chuyện chia thành 3 phần trùng khớp với 3 cung có trong lòng động. Cung 1 là cảnh Từ Thức gặp tiên và lấy vợ tiên, trung tâm là cảnh “quần tiên hội ẩm”. Cung 2 là cảnh Từ Thức sống ở cõi tiên và ước mơ về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân gian. Chẳng thế mà ở đây có đủ đầy nào kho thóc, kho vàng, kho bạc, kho muối... Lại có cả hình tượng thiêng liêng “rồng chầu ấp trứng”. Rồi những phiến đá, nhũ đá mỏng, màu trắng ngà rủ từ trần động xuống. Với trí tưởng tượng phong phú của mình, dân gian gọi những nhũ đá đó là dàn “đàn đá”, “trống đá”. Nếu du khách có nhã hứng, chỉ cần gõ nhẹ vào những thanh nhũ đá ấy sẽ nghe vang lên nhiều cung bậc khác nhau của âm thanh. Có tiếng trầm hùng như từ ngàn xưa vọng lại và có những thanh âm réo rắt như cao vút tận trời xanh. Càng vào sâu trong động, du khách càng thêm ngỡ ngàng trước sự sắp đặt ngẫu nhiên mà khéo léo, tài tình của tạo hóa. Mỗi một không gian trong động đều tập trung tái hiện lại thiên tình sử xưa kia. Đó là bàn cờ tiên, thư phòng của Từ Thức, buồng tắm của Giáng Hương, đường lên trời hay lối xuống âm phủ, cảnh Từ Thức cùng Giáng Hương “cưỡi xe mây” du ngoạn chốn bồng lai hay cùng che “lộng vàng” ngâm thơ, đọc sách. Cung 3 tái hiện cảnh Từ Thức từ biệt Giáng Hương trở về hạ giới với một đôi giầy cũ để lại cõi tiên, những bông hoa mẫu đơn vừa như mở đầu cho mối nhân duyên gặp gỡ và cũng là khép lại câu chuyện từ biệt, chia ly. Phía cuối động có vòm thấp, phải cúi đầu mới vào được đó là “lầu cô lầu cậu” rất linh thiêng, những cặp vợ chồng thường vào đó để cầu tự sinh trai tài, gái sắc.
Mang theo câu chuyện tình đẹp giữa chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương và những hình ảnh đẹp của “danh sơn đệ nhất động” của trời Nam – động Từ Thức, sông Hoạt tiếp tục xuôi dòng đưa du khách đến với một di tích, thắng cảnh nổi tiếng khác của xã Nga Thiện. Đó là núi Bia Thần. Trên ngọn núi này có khắc một chữ Thần bằng tiếng Hán rất lớn, chiều ngang khoảng 1m, chiều dọc khoảng 2m. Không ai biết chính xác về sự ra đời của chữ Thần này, sử sách có ghi chép lại nhưng cho đến nay cũng tồn tại rất nhiều dị bản, khó phân định đúng sai. Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép lại: “Chữ Thần khắc trên đá tương truyền là bút tích của Vua Lê Thánh tông”. Tuy nhiên, theo như nghiên cứu gần đây của các tác giả Hồng Phi, Hương Nao thì chữ Thần được khắc vào tháng hai năm Tân Mão (1771), trong dịp chúa Trịnh Sâm trở về Kinh đô Thăng Long bằng đường thủy, sau hơn nửa năm kinh lý trên xứ Thanh Hoa. Và sáu chữ Hán nhỏ khắc chìm bên cạnh chữ Thần là “Nhật Nam nguyên chủ đặc sai” cho ta biết đây là bút hiệu của chúa Trịnh Sâm, thường đi kèm với các bài thơ khắc đá của ông. Chính sự không rõ ràng về nguồn gốc này lại càng khiến cho sự có mặt của bia Thần trên hành trình sông Hoạt xuôi dòng thêm phần kỳ bí, nhuốm màu sắc tâm linh. Nhìn nét chữ khỏe khoắn, phóng khoáng được khắc tạc trên đá, ở một vị trí núi non hiểm trở như muốn chứng tỏ rằng nơi đây là vùng đất thiêng, có thần linh che chở, phù hộ.
Nếu bên này sông, con người khéo tạc nên chữ Thần nơi cửa biển thì chỉ cần một cái ngoái đầu, du khách sẽ cảm thấy vô cùng thú vị khi được ngắm nhìn tượng ông Lã Vọng ngồi buông cần câu cá trên chỏm đá do bàn tay thiên nhiên gọt giũa mà thành. Giữa sóng nước mênh mông, đôi bờ chỉ thấy xanh mướt bờ tre, ruộng cói xen kẽ màu tím ngan ngát của những cánh hoa lục bình lập lờ trôi và những nếp nhà ẩn hiện, tượng ông Lã Vọng trên cao khiến du khách dễ dàng liên tưởng đến câu chuyện Lã Vọng câu cá chờ thời nổi tiếng.
Mê mải theo dòng Hoạt giang, du khách đã thấy mình ở giữa mênh mông non nước Thần Phù. Cửa Thần Phù vốn là một cửa biển hiểm yếu xa xưa nằm trên tuyến đường thủy hành quân Nam tiến của người Việt nên được gắn với nhiều truyền thuyết ly kỳ trong dân gian và sử sách. Theo Nam Ông mộng lục, Vua Lý Thái tông mang quân Nam tiến để đánh dẹp Chiêm Thành, đến cửa biển này gặp gió to sóng dữ, không đi được, may nhờ một đạo sĩ có phép thuật cao minh dẹp yên sóng dữ. Trên đường trở về, đạo sĩ mất. Vua biết tin, cho lập đền thờ ở ngay cửa biển, phong hiệu là “Áp lãng chân nhân” (người dẹp yên được sóng dữ) và gọi tên nơi đây là cửa biển Thần Phù. Sử sách Việt có ghi chép lại nhiều chiến tích chống giặc ngoại xâm qua các thời kỳ của quân và dân ta nơi cửa biển này. Năm 40 sau Công nguyên, Lê Thị Hoa - nữ tướng của Hai Bà Trưng đã tổ chức quân đội, phất cao ngọn cờ độc lập chống lại sự tấn công của Mã Viện. Vào cuối thế kỷ X, khi Vua Đinh Tiên Hoàng vừa mới mất (năm 979), Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn là nhiếp chính. Phò mã Ngô Nhật Khánh cùng quân Chiêm tiến ra Hoa Lư đánh nhà Đinh. Nhưng vừa tới cửa Tiểu Khang (cửa Thần Phù) thì bị gió bão đánh chìm. Ngô Nhật Khánh chết đuối, chúa Chiêm may mắn thoát nạn. Đến với cửa biển Thần Phù, chúng ta không chỉ được hiểu biết thêm về lịch sử đấu tranh anh dũng của ông cha ta, mà còn được ngắm phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp vùng cửa biển và ghé thăm chùa Hàn Sơn – một công trình kiến trúc tâm linh có tính nghệ thuật cao. Trong lịch sử ngàn năm nước Đại Việt xưa, non nước Thần Phù là danh sơn thắng địa bậc nhất trong 12 cửa biển. Chẳng thế mà Nguyễn Trãi khi qua nơi này đã động lòng mà viết nên thơ: “Núi vút ngàn trùng non dựng đứng/ Rắn bò một dải nước quanh đi”. Qua sự biến thiên của thời gian, một cửa biển sóng to, gió giữ từng là nỗi ám ảnh của thuyền, bè qua lại, đến nay chỉ còn là vùng đất nằm cách bờ biển hơn 10km.
Xuôi dòng Hoạt giang, du khách không chỉ được thả hồn trong cảnh sắc thiên nhiên mà còn được thưởng thức nhiều đặc sản đã làm nên hương vị ẩm thực độc đáo của Nga Sơn: Gỏi cá nhệch; dê ủ trấu...
Tiềm năng, thế mạnh là thế, tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, dòng sông Hoạt với những thế mạnh thu hút khách du lịch chưa được khai thác một cách thực sự tương xứng, có hiệu quả. Hy vọng rằng, trong tương lai không xa, bằng những chủ trương đúng đắn và sự quan tâm, đầu tư, khai thác của các cấp, các ngành, du lịch sông Hoạt nói riêng và du lịch Nga Sơn nói chung sẽ phát triển một cách hiệu quả, bền vững, hướng tới trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của địa phương.
Theo baothanhhoa